LeaPrep · CFA Level I · Mock Test 1

Economics
.

Topic 2
LeaPrep fox mascot
12 câu hỏi · 3 slide / câu · ~18 phút
Mock
1
Subject
Economics
Câu hỏi
12
Format
3 lựa chọn A/B/C
Nội dung: câu hỏi · hướng dẫn tư duy · đáp án & giải thích
MOCK
01
Economics
Buổi học hôm nay

Economics
.

Economics · Mock 1 01 / 12
Câu 1 / 12

The exchange rate yesterday between the U.S. dollar (USD) and Canadian dollar (CAD) was 0.85 USD/CAD. Today, the exchange rate closed at 0.89 USD/CAD. The U.S. dollar has:

  1. (A)appreciated by 4.7%.
  2. (B)epreciated by 4.7%.
  3. (C)depreciated by 4.5%.
Economics · Mock 1 01 / 12
Hướng dẫn tư duy · Câu 1

Đọc đề và định hướng phân tích.

Các bước suy luận then chốt trước khi chọn đáp án.

  • 01Because it takes more U.S. dollars to buy a Canadian dollar today, the USD has depreciated.
  • 02To determine the percentage depreciation of the USD, the USD must be the base currency (CAD/USD).
  • 03Thus, the exchange rate yesterday is 1 / 0.85 = 1.1765 CAD/USD.
Economics · Mock 1 01 / 12
Đáp án · Câu 1
C
Đáp án đúng
depreciated by 4.5%.
Giải thích

Because it takes more U.S. dollars to buy a Canadian dollar today, the USD has depreciated. To determine the percentage depreciation of the USD, the USD must be the base currency (CAD/USD). Thus, the exchange rate yesterday is 1 / 0.85 = 1.1765 CAD/USD. The exchange rate today is 1 / 0.89 = 1.1236 CAD/USD. The percentage depreciation in the USD is 1.1236 / 1.1765 − 1 = −0.045, or −4.5%.

Economics · Mock 1 01 / 12
Giải thích sâu · Câu 1

Economics: Exchange Rate Quoting Convention và Currency Appreciation/Depreciation.

Câu hỏi này kiểm tra kiến thức về exchange rate quoting convention và cách tính percentage change của một đồng tiền. Khi tỷ giá viết dạng USD/CAD, quy ước CFA quy định đồng tiền ở tử số là price currency (USD) còn đồng tiền ở mẫu số là base currency (CAD). Điều cốt yếu cần nhớ là muốn tính phần trăm thay đổi của một đồng tiền, đồng tiền đó phải đứng ở vị trí base currency trước khi tính.

Hãy tưởng tượng bạn là nhà nhập khẩu phải mua hàng Canada và thanh toán bằng CAD. Hôm qua, 1 CAD chỉ tốn 0.85 USD. Hôm nay, 1 CAD tốn tới 0.89 USD. Lúc này có vấn đề vì bạn phải bỏ ra nhiều USD hơn để mua cùng một lượng CAD, tức là sức mua của USD đã giảm so với CAD. Nói cách khác, USD đã depreciated so với CAD.

Nên CFA chia bài toán này làm 2 bước. Thứ nhất, xác định hướng thay đổi: tỷ giá USD/CAD tăng từ 0.85 lên 0.89, nghĩa là cần nhiều USD hơn để mua 1 CAD, vậy USD đã depreciated, loại ngay đáp án (A). Thứ hai, tính phần trăm depreciation của USD: vì USD đang là price currency trong quote gốc, ta phải đảo tỷ giá để USD trở thành base currency, chuyển sang dạng CAD/USD. Tỷ giá hôm qua là 1 / 0.85 = 1.1765 CAD/USD. Tỷ giá hôm nay là 1 / 0.89 = 1.1236 CAD/USD. Phần trăm thay đổi là (1.1236 / 1.1765) - 1 = -0.045, tức là -4.5%, chính là đáp án (C).

Cốt lõi của bài là khi tỷ giá A/B tăng, đồng tiền A là price currency và đã depreciated so với B. Để tính % thay đổi của một đồng tiền, bạn phải đưa nó về vị trí base currency trước, rồi mới tính (new/old - 1). Một cách nhớ nhanh: "Base = Biến động cần đo." Đồng tiền nào bạn muốn đo mức biến động, đồng tiền đó phải làm base trong phép tính.

Một bẫy CFA hay hỏi là học viên tính thẳng (0.89 - 0.85) / 0.85 = 4.7% mà không đảo tỷ giá. Kết quả 4.7% này thực ra là phần trăm appreciation của CAD, không phải phần trăm depreciation của USD. Đáp án (B) chính là bẫy điển hình: hướng "depreciated" là đúng nhưng con số 4.7% lại sai vì bỏ qua bước đảo quote. Còn đáp án (A) sai hoàn toàn vì nhầm cả hướng lẫn con số. Nguyên tắc vàng cần nhớ là %ΔA/B ≠ -%ΔB/A do hiệu ứng toán học của phép lấy nghịch đảo, nên bắt buộc phải đảo tỷ giá trước khi tính phần trăm thay đổi của đồng tiền đang xét.

Economics · Mock 1 02 / 12
Câu 2 / 12

Geopolitical risks are characterized as "black swan" risks if they have a:

  1. (A)high likelihood and high impact.
  2. (B)low likelihood and high impact.
  3. (C)high likelihood and low impact.
Economics · Mock 1 02 / 12
Hướng dẫn tư duy · Câu 2

Đọc đề và định hướng phân tích.

Các bước suy luận then chốt trước khi chọn đáp án.

  • 01Black swan risk refers to an unanticipated event with low likelihood (e.g.
  • 02a pandemic or war) that would have a substantial short-term impact.
Economics · Mock 1 02 / 12
Đáp án · Câu 2
B
Đáp án đúng
low likelihood and high impact.
Giải thích

Black swan risk refers to an unanticipated event with low likelihood (e.g., a pandemic or war) that would have a substantial short-term impact.

Economics · Mock 1 02 / 12
Giải thích sâu · Câu 2

Geopolitical Risk Framework: Black Swan Events (Low Likelihood, High Impact).

Khái niệm Black Swan xuất phát từ lý thuyết rủi ro hiện đại, đặc biệt được phổ biến bởi Nassim Nicholas Taleb, và được CFA Institute đưa vào framework phân tích rủi ro địa chính trị. Ý cốt yếu của nó là: không phải mọi rủi ro đều có thể dự báo dễ dàng. Một số sự kiện vừa cực kỳ hiếm gặp, vừa gây ra hậu quả tàn khốc khi xảy ra, và chính sự kết hợp đó làm chúng trở thành mối nguy đặc biệt khó phòng vệ trong quản lý danh mục đầu tư.

Lúc này, hãy hình dung bạn là một portfolio manager đang xây dựng kế hoạch phân bổ tài sản cho năm tới. Bạn đã tính đến rủi ro lạm phát tăng, rủi ro lãi suất thay đổi, thậm chí cả nguy cơ một công ty trong danh mục báo lỗ. Đây đều là những rủi ro thường gặp và có thể ước lượng được. Nhưng đột nhiên, một đại dịch toàn cầu bùng phát hoặc một cuộc chiến tranh nổ ra ở khu vực địa chính trị trọng yếu. Lúc này có vấn đề vì không mô hình định lượng nào trong kế hoạch của bạn có thể dự đoán được sự kiện này, và tác động của nó lên thị trường tài chính diễn ra cực kỳ nhanh và mạnh trong ngắn hạn.

Nên CFA chia các rủi ro địa chính trị làm hai chiều để phân loại. Thứ nhất, chiều likelihood, tức xác suất xảy ra, có thể cao hoặc thấp. Thứ hai, chiều impact, tức mức độ ảnh hưởng lên thị trường và nền kinh tế, cũng có thể lớn hoặc nhỏ. Black swan event nằm ở góc phần tư đặc biệt nhất: low likelihood kết hợp với high impact. Một cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu như năm 2008, một đại dịch như COVID-19, hay một cuộc xung đột vũ trang bùng nổ bất ngờ đều rơi vào định nghĩa này. Chúng không xảy ra thường xuyên, nhưng khi xảy ra thì chấn động toàn bộ hệ thống tài chính trong thời gian ngắn.

Cốt lõi của câu hỏi này là học viên phải ghi nhớ đúng hai thuộc tính định nghĩa black swan: xác suất thấptác động cao, không phải bất kỳ tổ hợp nào khác. Một cách nhớ nhanh là liên tưởng đến hình ảnh "thiên nga đen": thiên nga đen cực hiếm gặp trong tự nhiên, nhưng khi xuất hiện thì gây chấn động toàn bộ nhận thức của người quan sát, tương tự như cách một black swan event lật ngược kỳ vọng thị trường.

Một bẫy CFA hay hỏi là nhầm black swan với rủi ro có high likelihood và high impact, tức những rủi ro nghiêm trọng nhưng có thể dự đoán được như suy thoái kinh tế theo chu kỳ. Đáp án A là bẫy phổ biến nhất vì học viên thường nghĩ "nguy hiểm thì phải thường xuyên", nhưng định nghĩa chính xác của black swan luôn gắn với yếu tố bất ngờ, tức xác suất xuất hiện phải ở mức thấp.

Economics · Mock 1 03 / 12
Câu 3 / 12

A country's monetary authority believes the long-term rate of real GDP growth is 3%. To achieve its target inflation rate of 2%, the central bank sets its policy rate at 4%. Current monetary policy in this country is best described as:

  1. (A)neutral.
  2. (B)expansionary.
  3. (C)contractionary.
Economics · Mock 1 03 / 12
Hướng dẫn tư duy · Câu 3

Đọc đề và định hướng phân tích.

Các bước suy luận then chốt trước khi chọn đáp án.

  • 01To determine whether monetary policy is expansionary or contractionary, we compare the central bank's policy rate to the neutral interest rate.
  • 02The neutral interest rate is the sum of the real trend rate of GDP growth and the target inflation rate.
  • 03Because the policy rate of 4% is less than the neutral interest rate (3% + 2% = 5%), monetary policy is expansionary.
Economics · Mock 1 03 / 12
Đáp án · Câu 3
B
Đáp án đúng
expansionary.
Giải thích

To determine whether monetary policy is expansionary or contractionary, we compare the central bank's policy rate to the neutral interest rate. The neutral interest rate is the sum of the real trend rate of GDP growth and the target inflation rate. Because the policy rate of 4% is less than the neutral interest rate (3% + 2% = 5%), monetary policy is expansionary.

Economics · Mock 1 03 / 12
Giải thích sâu · Câu 3

Neutral Interest Rate & Monetary Policy Stance: Expansionary vs. Contractionary.

Neutral Interest Rate là nền tảng để đánh giá lập trường chính sách tiền tệ của bất kỳ ngân hàng trung ương nào. Ý cốt yếu của concept này rất đơn giản: có một mức lãi suất "vừa đủ" để nền kinh tế tăng trưởng đúng tiềm năng mà không kích thích cũng không kìm hãm. Mức đó được gọi là neutral rate, và công thức tính là: Neutral Rate = Real Trend GDP Growth + Target Inflation.

Hãy tưởng tượng bạn đang điều chỉnh nhiệt độ điều hòa trong phòng. Nếu nhiệt độ ngoài trời là 35 độ và bạn muốn phòng duy trì ở 25 độ, thì nhiệt độ cài đặt "trung lập" chính xác là mức đủ để đạt 25 độ đó. Lúc này có vấn đề vì nếu bạn cài thấp hơn mức cần thiết, máy lạnh chạy mạnh hơn mức trung lập, tức là bạn đang "kích thích" làm mát nhiều hơn bình thường. Tương tự, khi central bank đặt policy rate thấp hơn neutral rate, chi phí vay vốn rẻ hơn mức cân bằng, tín dụng chảy nhiều hơn vào nền kinh tế, và đây chính là expansionary policy.

Nên CFA chia làm ba trường hợp để so sánh policy rate với neutral rate. Thứ nhất, nếu policy rate bằng neutral rate, chính sách là neutral, không kích thích cũng không kìm hãm. Thứ hai, nếu policy rate thấp hơn neutral rate, chính sách là expansionary vì lãi suất thực đang được giữ thấp hơn mức cân bằng, khuyến khích vay mượn và chi tiêu. Thứ ba, nếu policy rate cao hơn neutral rate, chính sách là contractionary vì chi phí vốn bị đẩy lên trên mức cân bằng, kìm hãm tín dụng và tổng cầu.

Áp dụng vào case này: neutral rate = 3% (real GDP growth) + 2% (target inflation) = 5%. Policy rate hiện tại là 4%, tức là thấp hơn neutral rate 1 điểm phần trăm. Kết luận: chính sách đang là expansionary.

Cốt lõi của dạng bài này nằm ở việc nhớ đúng công thức neutral rate và so sánh đúng chiều. Một cách nhớ nhanh: "Neutral = Real Growth + Target Inflation", viết tắt là N = R + T. Nếu policy rate nằm dưới N thì "bơm gas" (expansionary), nằm trên N thì "đạp phanh" (contractionary).

Một bẫy CFA hay hỏi là học viên nhầm lẫn giữa real GDP growth và nominal GDP growth, hoặc dùng lạm phát thực tế thay vì target inflation để tính neutral rate. Đề bài sẽ cố tình cho thêm các con số thừa như lạm phát hiện tại khác với target, khiến bạn tính sai neutral rate và chọn nhầm đáp án.

Economics · Mock 1 04 / 12
Câu 4 / 12

When expansionary fiscal policy results in reduced capital investments by firms, it is most likely that:

  1. (A)interest rates are too high due to inappropriate money supply growth.
  2. (B)a fall in aggregate demand has reduced the expected profitability of capital investment.
  3. (C)fiscal deficits have resulted in a crowding-out effect.
Economics · Mock 1 04 / 12
Hướng dẫn tư duy · Câu 4

Đọc đề và định hướng phân tích.

Các bước suy luận then chốt trước khi chọn đáp án.

  • 01The crowding-out effect is when the government runs a deficit and must borrow more, which increases the demand for loanable funds.
  • 02This causes interest rates to increase.
  • 03At the higher rates, firms invest less in physical capital.
Economics · Mock 1 04 / 12
Đáp án · Câu 4
C
Đáp án đúng
fiscal deficits have resulted in a crowding-out effect.
Giải thích

The crowding-out effect is when the government runs a deficit and must borrow more, which increases the demand for loanable funds. This causes interest rates to increase. At the higher rates, firms invest less in physical capital. The effect of expansionary fiscal policy is reduced by the crowding-out effect.

Economics · Mock 1 04 / 12
Giải thích sâu · Câu 4

Macroeconomics: Fiscal Policy và Crowding-Out Effect.

Fiscal Policy và Crowding-Out Effect là một trong những concept nền tảng của kinh tế vĩ mô trong chương trình CFA. Ý cốt yếu là khi chính phủ thực thi expansionary fiscal policy bằng cách tăng chi tiêu hoặc cắt giảm thuế, chính phủ thường phải vay tiền để bù đắp thâm hụt ngân sách, và hành động vay này có thể "chèn ép" đầu tư tư nhân ra khỏi thị trường vốn.

Lúc này hãy hình dung một scenario đời thường: một thị trấn nhỏ có một ngân hàng địa phương với lượng tiền cho vay có hạn. Một ngày, chính quyền địa phương cần vay một khoản lớn để xây trường học và đường sá, đẩy nhu cầu vay vốn lên cao đột ngột. Lúc này có vấn đề vì ngân hàng buộc phải tăng lãi suất để cân bằng cung cầu, và các doanh nghiệp nhỏ trong thị trấn vốn muốn vay để mua máy móc hay mở rộng nhà xưởng nay thấy chi phí vốn quá cao, đành hoãn kế hoạch đầu tư. Đây chính xác là cơ chế của crowding-out effect ở cấp độ quốc gia.

Nên CFA chia cơ chế này làm hai bước rõ ràng. Thứ nhất, chính phủ chạy thâm hụt ngân sách và phát hành trái phiếu để huy động vốn, làm tăng demand for loanable funds trên thị trường. Thứ hai, áp lực cầu tăng đẩy lãi suất lên cao, khiến các doanh nghiệp tư nhân thấy cost of capital vượt quá expected return on investment, dẫn đến cắt giảm chi tiêu vốn. Kết quả là hiệu quả thực của expansionary fiscal policy bị triệt tiêu một phần hoặc hoàn toàn.

Cốt lõi của crowding-out effect nằm ở mối quan hệ nhân quả: fiscal deficit làm tăng lãi suất, lãi suất tăng làm giảm private capital investment. Chính phủ "lấn át" khu vực tư nhân trong việc sử dụng nguồn vốn khan hiếm. Một cách nhớ nhanh là hình ảnh chiếc bánh loanable funds cố định: chính phủ ăn nhiều hơn thì doanh nghiệp được ít hơn, và phần thiếu hụt đó chính là crowding-out.

Một bẫy CFA hay hỏi là nhầm lẫn giữa đáp án A và C. Đáp án A gán nguyên nhân cho money supply growth và chính sách tiền tệ sai lầm, nhưng đề bài chỉ nói đến fiscal policy, không đề cập đến hành động của ngân hàng trung ương. Đáp án B thì ngược chiều nhân quả hoàn toàn vì trong expansionary fiscal policy, aggregate demand tăng chứ không giảm, nên profitability kỳ vọng không thể sụt giảm theo kênh đó. Chỉ có đáp án C nắm đúng cơ chế lãi suất bị đẩy lên do chính phủ vay nợ nhiều hơn.

Economics · Mock 1 05 / 12
Câu 5 / 12

For the coming year, Petrie Ltd. forecasts total revenue of £2,500,000, total costs of £4,000,000, and total fixed costs of £3,000,000. Petrie expects these same conditions to persist for the foreseeable future. Based on these forecasts, Petrie should:

  1. (A)cease operations.
  2. (B)continue to operate in both the short run and the long run.
  3. (C)continue to operate in the short run but shut down in the long run.
Economics · Mock 1 05 / 12
Hướng dẫn tư duy · Câu 5

Đọc đề và định hướng phân tích.

Các bước suy luận then chốt trước khi chọn đáp án.

  • 01Total variable costs = £4,000,000 − £3,000,000 = £1,000,000.
  • 02The firm should continue to operate in the short run because total revenue is greater than total variable costs.
  • 03The firm should shut down in the long run because total revenue is less than total costs.
Economics · Mock 1 05 / 12
Đáp án · Câu 5
C
Đáp án đúng
continue to operate in the short run but shut down in the long run.
Giải thích

Total variable costs = £4,000,000 − £3,000,000 = £1,000,000. The firm should continue to operate in the short run because total revenue is greater than total variable costs. The firm should shut down in the long run because total revenue is less than total costs.

Economics · Mock 1 05 / 12
Giải thích sâu · Câu 5

Economics: Short-Run vs. Long-Run Shutdown Decision.

Quyết định tiếp tục hay đóng cửa doanh nghiệp là một trong những khái niệm nền tảng của kinh tế học vi mô trong chương trình CFA Level 1. Ý cốt yếu là: doanh nghiệp phải so sánh doanh thu với hai ngưỡng chi phí khác nhau tùy vào thời hạn quyết định, ngắn hạn hay dài hạn, vì bản chất của chi phí cố định thay đổi hoàn toàn giữa hai ngưỡng này.

Lúc này, hãy hình dung bạn đang thuê một cửa hàng cà phê với hợp đồng thuê mặt bằng còn 6 tháng, tiền thuê cố định 30 triệu đồng mỗi tháng. Tháng này bạn thu về 10 triệu, chi phí nguyên liệu và nhân công là 8 triệu. Lúc này có vấn đề vì bạn đang lỗ tổng cộng nếu tính cả tiền thuê, nhưng nếu đóng cửa ngay bây giờ bạn vẫn phải trả 30 triệu tiền thuê mà không thu về đồng nào. Tốt hơn là cứ mở cửa để kiếm 2 triệu bù vào khoản cố định đó. Nhưng khi hợp đồng hết hạn, bạn hoàn toàn tự do chọn không ký tiếp, và lúc đó không nên duy trì hoạt động thua lỗ nữa.

Đây chính xác là logic CFA áp dụng. Nên CFA chia quyết định làm hai trường hợp. Thứ nhất, trong ngắn hạn, chi phí cố định đã phát sinh và không thể thu hồi, nên doanh nghiệp chỉ cần so sánh total revenue với total variable costs: nếu Revenue lớn hơn hoặc bằng Variable Costs, doanh nghiệp nên tiếp tục hoạt động vì ít nhất còn bù được một phần fixed costs. Trong bài này, Total Variable Costs = £4,000,000 - £3,000,000 = £1,000,000, và Total Revenue = £2,500,000, tức Revenue vượt Variable Costs nên nên hoạt động ngắn hạn. Thứ hai, trong dài hạn, tất cả chi phí đều trở thành biến đổi vì không còn cam kết cố định nào ràng buộc, nên doanh nghiệp phải so sánh Revenue với tổng toàn bộ chi phí: £2,500,000 < £4,000,000, tức vi phạm ngưỡng tồn tại dài hạn và doanh nghiệp phải đóng cửa.

Cốt lõi của quyết định nằm ở câu hỏi: chi phí cố định còn có thể tránh được không? Ngắn hạn thì không, dài hạn thì có. Một cách nhớ nhanh: "Short run: cover variable, keep running. Long run: cover total, or stop." Chỉ cần nhớ hai bất đẳng thức này là giải được mọi dạng bài tương tự.

Một bẫy CFA hay hỏi là đề đưa ra doanh nghiệp đang lỗ nặng và hỏi có nên đóng cửa ngay lập tức không. Nhiều học viên chọn "đóng cửa" vì thấy lỗ tổng, nhưng câu trả lời đúng thường là "tiếp tục ngắn hạn" nếu revenue vẫn vượt variable costs. Đừng để con số lỗ ròng đánh lừa mà bỏ qua bước phân tách fixed và variable costs.

Economics · Mock 1 06 / 12
Câu 6 / 12

A firm in an oligopolistic market will:

  1. (A)earn positive economic profits in long-run equilibrium.
  2. (B)seldom use quality to differentiate its product.
  3. (C)consider the likely response of its rivals when making business decisions.
Economics · Mock 1 06 / 12
Hướng dẫn tư duy · Câu 6

Đọc đề và định hướng phân tích.

Các bước suy luận then chốt trước khi chọn đáp án.

  • 01Oligopolists are highly dependent upon the actions of their rivals when making business decisions.
  • 02The actions of one producer can have a large impact on the others.
  • 03In oligopolies, the number of sellers is small, barriers to entry are high, products may be similar or differentiated, and firms may use product quality or features to differentiate their products.
Economics · Mock 1 06 / 12
Đáp án · Câu 6
C
Đáp án đúng
consider the likely response of its rivals when making business decisions.
Giải thích

Oligopolists are highly dependent upon the actions of their rivals when making business decisions. The actions of one producer can have a large impact on the others. In oligopolies, the number of sellers is small, barriers to entry are high, products may be similar or differentiated, and firms may use product quality or features to differentiate their products. Economic profits may be zero in long-run equilibrium in the absence of collusion.

Economics · Mock 1 06 / 12
Giải thích sâu · Câu 6

Market Structure: Oligopoly (Thị trường Độc quyền nhóm).

Oligopoly là cấu trúc thị trường trong đó số lượng người bán rất ít, rào cản gia nhập cao, và hành động của một doanh nghiệp có thể ảnh hưởng trực tiếp đến toàn bộ các đối thủ còn lại. Ý cốt yếu ở đây là: trong oligopoly, mỗi quyết định kinh doanh đều phải tính đến phản ứng có thể xảy ra từ phía đối thủ cạnh tranh, một tính chất gọi là strategic interdependence.

Hãy hình dung thị trường viễn thông Việt Nam với ba nhà mạng lớn: Viettel, Mobifone, Vinaphone. Khi Viettel tung ra gói cước data giá rẻ, Mobifone và Vinaphone sẽ không ngồi yên mà lập tức điều chỉnh giá hoặc tung gói ưu đãi tương tự để giữ thị phần. Lúc này có vấn đề vì nếu Viettel ra quyết định mà không dự đoán phản ứng của đối thủ, toàn bộ chiến lược có thể thất bại. Đây chính là đặc trưng then chốt nhất của oligopoly: sự phụ thuộc lẫn nhau trong hành vi.

Nên CFA chia làm ba trường hợp khi phân tích ba đáp án của câu này. Thứ nhất, về phân biệt hóa sản phẩm: sản phẩm trong oligopoly có thể giống nhau hoặc được differentiated, và các doanh nghiệp thường dùng chất lượng, tính năng để tạo sự khác biệt, nên đáp án B sai khi nói "hiếm khi dùng quality để differentiate". Thứ hai, về lợi nhuận dài hạn: dù rào cản gia nhập cao có thể bảo vệ lợi nhuận trong ngắn hạn, CFA nhấn mạnh rằng trong long-run equilibrium nếu không có collusion, economic profit có thể về bằng không, nên đáp án A quá tuyệt đối khi khẳng định firm "sẽ luôn earn positive economic profits". Thứ ba, đặc trưng duy nhất luôn đúng và phân biệt oligopoly với mọi cấu trúc thị trường khác là các firm phải tính đến phản ứng của đối thủ trước khi ra bất kỳ quyết định nào, làm cho đáp án C chính xác nhất.

Cốt lõi của toàn bộ chủ đề này là khái niệm strategic interdependence: firm không hành động độc lập mà phải mô hình hóa hành vi đối thủ trước khi quyết định về giá, sản lượng hay marketing. Một cách nhớ nhanh là từ khóa SILO: Small sellers, Interdependence, Large barriers to entry, Often differentiated. Trong đó chữ I chính là linh hồn phân biệt oligopoly với mọi cấu trúc thị trường còn lại.

Một bẫy CFA hay hỏi là nhầm lẫn oligopoly với monopolistic competition khi nói về long-run profit. Trong monopolistic competition, long-run economic profit chắc chắn về zero vì rào cản gia nhập thấp. Còn trong oligopoly, nhờ rào cản gia nhập cao, lợi nhuận dương có thể tồn tại lâu dài đặc biệt khi có collusion, nhưng không được đảm bảo như đáp án A ngụ ý. CFA kiểm tra chính xác ranh giới tinh tế này.

Economics · Mock 1 07 / 12
Câu 7 / 12

The spot exchange rate between the U.S. dollar (USD) and the Swiss franc (CHF) is 1.34 USD/CHF. The 1-year riskless interest rate in the United States is 3%, and the 1-year interest rate in Switzerland is 5%. The arbitrage-free 1 year USD/CHF forward rate is closest to:

  1. (A)0.761 USD/CHF.
  2. (B)1.315 USD/CHF.
  3. (C)1.366 USD/CHF.
Economics · Mock 1 07 / 12
Hướng dẫn tư duy · Câu 7

Đọc đề và định hướng phân tích.

Các bước suy luận then chốt trước khi chọn đáp án.

  • 01The arbitrage-free one-year forward rate is computed as follows:
  • 02Spot rate × (1+iprice currency)(1+ibase currency)=1.34 × (1.03 / 1.05) = 1.3145 USD/CHF.
Economics · Mock 1 07 / 12
Đáp án · Câu 7
B
Đáp án đúng
1.315 USD/CHF.
Giải thích

The arbitrage-free one-year forward rate is computed as follows:

Spot rate × (1+iprice currency)(1+ibase currency)=1.34 × (1.03 / 1.05) = 1.3145 USD/CHF.

Economics · Mock 1 07 / 12
Giải thích sâu · Câu 7

Covered Interest Rate Parity: Tính Arbitrage-Free Forward Exchange Rate.

Covered Interest Rate Parity là nguyên lý nền tảng trong FX, phát biểu rằng forward rate giữa hai đồng tiền phải phản ánh đúng chênh lệch lãi suất giữa hai quốc gia. Nếu không, nhà đầu tư có thể kiếm lợi nhuận phi rủi ro bằng cách vay tiền ở nước có lãi suất thấp, chuyển đổi sang nước có lãi suất cao, và khóa tỷ giá forward để đưa tiền về, tức là arbitrage sẽ xảy ra cho đến khi thị trường tự cân bằng lại.

Hãy tưởng tượng bạn có 1.34 USD và đang cân nhắc hai con đường đầu tư trong 1 năm. Con đường thứ nhất là gửi thẳng USD tại Mỹ với lãi suất 3%, thu về 1.3802 USD. Con đường thứ hai là đổi sang 1 CHF, gửi tại Thụy Sĩ với lãi suất 5%, thu về 1.05 CHF sau một năm, rồi đổi lại USD theo forward rate đã khóa trước. Lúc này có vấn đề vì nếu forward rate không điều chỉnh đúng, một trong hai con đường sẽ luôn cho kết quả tốt hơn và cơ hội arbitrage sẽ tồn tại mãi. Thị trường tự triệt tiêu cơ hội đó bằng cách định giá forward rate sao cho cả hai con đường cho kết quả tương đương.

Nên CFA chia bài toán thành các bước cụ thể. Thứ nhất, xác định price currency và base currency: trong quote USD/CHF, CHF là base currency và USD là price currency. Lãi suất Mỹ (USD, price currency) là 3%, lãi suất Thụy Sĩ (CHF, base currency) là 5%. Thứ hai, áp dụng công thức: Forward = Spot × (1 + i_price) / (1 + i_base) = 1.34 × (1.03 / 1.05) = 1.3145, làm tròn thành 1.315 USD/CHF, tức là đáp án (B). Vì CHF có lãi suất cao hơn, CHF phải mất giá ở thị trường forward, nên forward rate thấp hơn spot (1.315 < 1.34), điều này hoàn toàn hợp lý về mặt kinh tế.

Cốt lõi của bài này là nhớ đúng vị trí lãi suất trong phân số: lãi suất của price currency nằm ở tử số, lãi suất của base currency nằm ở mẫu số. Một cách nhớ nhanh là ghi nhớ cụm "P trên B dưới" (Price over Base), đúng như cách tỷ giá được đọc theo thứ tự price-per-base trong convention USD/CHF.

Một bẫy CFA hay hỏi là đặt lãi suất ngược lại, tính 1.34 × (1.05 / 1.03) = 1.366, ra đáp án (C), đây là cái bẫy phổ biến nhất khi học viên nhầm base và price. Bẫy thứ hai là đổi ngược chiều quote, vô tình tính CHF/USD thay vì USD/CHF, cho kết quả xấp xỉ 0.761, tương ứng đáp án (A). Cả hai đều sai vì nhầm vị trí lãi suất hoặc nhầm chiều quote ngay từ đầu.

Economics · Mock 1 08 / 12
Câu 8 / 12

The kinked demand curve model of oligopoly is based on a belief that:

  1. (A)firms will follow the market leader in setting prices.
  2. (B)a price increase by one firm will likely not be followed by its competitors, but a decrease will.
  3. (C)one firm has a significant cost advantage and produces a relatively large proportion of the industry’s output.
Economics · Mock 1 08 / 12
Hướng dẫn tư duy · Câu 8

Đọc đề và định hướng phân tích.

Các bước suy luận then chốt trước khi chọn đáp án.

  • 01The kinked demand curve model is based on the assumption that an increase in a firm's product price will not be followed by its competitors, but a decrease in price will be followed.
  • 02A firm believes that for price increases above the kink in the demand curve, demand for its product is elastic and the firm will lose market share.
Economics · Mock 1 08 / 12
Đáp án · Câu 8
B
Đáp án đúng
a price increase by one firm will likely not be followed by its competitors, but a decrease will.
Giải thích

The kinked demand curve model is based on the assumption that an increase in a firm's product price will not be followed by its competitors, but a decrease in price will be followed. A firm believes that for price increases above the kink in the demand curve, demand for its product is elastic and the firm will lose market share.

Economics · Mock 1 08 / 12
Giải thích sâu · Câu 8

Kinked Demand Curve Model: Oligopoly Pricing Behavior.

Kinked Demand Curve là mô hình kinh tế học mô tả hành vi định giá trong thị trường oligopoly, nơi chỉ có một số ít hãng cạnh tranh với nhau. Ý cốt yếu của mô hình là các hãng tin rằng đối thủ sẽ phản ứng bất cân xứng tùy theo chiều hướng thay đổi giá, tạo ra một điểm gãy khúc đặc trưng trên đường cầu và giải thích tại sao giá trong oligopoly thường có xu hướng cứng nhắc, khó thay đổi theo cả hai chiều.

Hình dung thế này: ba hãng viễn thông lớn đang cùng bán gói cước 200,000 đồng mỗi tháng. Một hãng đột ngột tăng lên 220,000 đồng. Lúc này có vấn đề vì hai đối thủ còn lại không có lý do gì để tăng theo, họ giữ nguyên giá và ngồi chờ khách hàng tự tìm đến. Hãng tăng giá mất thị phần rất nhanh. Ngược lại, nếu hãng đó giảm xuống 180,000 đồng, hai đối thủ kia lập tức giảm theo vì không thể để mất khách. Kết quả là lợi thế của việc giảm giá gần như bị triệt tiêu hoàn toàn.

Nên CFA chia làm 2 trường hợp. Thứ nhất, khi một hãng tăng giá: đối thủ không theo, nên hãng mất khách hàng rất nhanh, phần đường cầu phía trên điểm kink có độ co giãn cao (elastic). Thứ hai, khi một hãng giảm giá: đối thủ lập tức làm theo, nên lợi thế giảm giá bị san bằng, phần đường cầu phía dưới điểm kink có độ co giãn thấp (inelastic). Chính sự bất cân xứng này tạo ra điểm gãy khúc (kink) đặc trưng, làm cho hãng không có động lực thay đổi giá theo bất kỳ chiều nào.

Cốt lõi của mô hình là: tăng giá thì đơn độc, giảm giá thì cả thị trường chạy theo. Một cách nhớ nhanh: "Tăng một mình, giảm cả hội" (asymmetric response), kích hoạt hai đoạn đường cầu với độ co giãn khác nhau, tạo ra kink, và chính kink đó ghim giá tại chỗ không dịch chuyển.

Một bẫy CFA hay hỏi là nhầm kinked demand curve với price leadership model (đáp án A), nơi các hãng nhỏ đơn giản bám theo giá của market leader mà không có logic bất cân xứng nào. Kinked demand curve không có khái niệm leader mà mỗi hãng tự dự đoán phản ứng đối thủ theo chiều tăng và chiều giảm riêng biệt. Đáp án C mô tả dominant firm model, nơi một hãng chiếm tỷ trọng sản lượng lớn và kiểm soát giá thị trường, hoàn toàn là khái niệm khác. Đề CFA thường xoáy vào cụm "not followed... but a decrease will" để xác nhận đây đúng là kinked demand curve, không phải mô hình nào khác.

Economics · Mock 1 09 / 12
Câu 9 / 12

Fiscal policy multipliers suggest that if the government increases both spending and taxes by the same amount, the overall effect on the economy is most likely:

  1. (A)neutral because the fiscal deficit remains unchanged.
  2. (B)a decrease in aggregate demand because the autonomous tax multiplier is greater than the government expenditure multiplier.
  3. (C)an increase in aggregate demand because the government expenditure multiplier is greater than the autonomous tax multiplier.
Economics · Mock 1 09 / 12
Hướng dẫn tư duy · Câu 9

Đọc đề và định hướng phân tích.

Các bước suy luận then chốt trước khi chọn đáp án.

  • 01Since the government purchases multiplier is greater than the tax multiplier
  • 02an increase in government spending will increase aggregate demand more than an equal- sized tax increase will reduce aggregate demand.
Economics · Mock 1 09 / 12
Đáp án · Câu 9
C
Đáp án đúng
an increase in aggregate demand because the government expenditure multiplier is greater than the autonomous tax multiplier.
Giải thích

Since the government purchases multiplier is greater than the tax multiplier, an increase in government spending will increase aggregate demand more than an equal- sized tax increase will reduce aggregate demand.

Economics · Mock 1 09 / 12
Giải thích sâu · Câu 9

Fiscal Policy Multipliers: Government Expenditure Multiplier vs. Tax Multiplier (Balanced Budget Multiplier).

Fiscal Policy Multipliers là concept mô tả mức độ khuếch đại của từng công cụ chính sách tài khóa lên tổng cầu. Ý cốt yếu ở đây là hai công cụ, tăng chi tiêu chính phủ và tăng thuế, dù cùng quy mô, lại có sức ảnh hưởng không đối xứng lên GDP. Đây chính là nền tảng của Balanced Budget Multiplier Theorem, một trong những kết quả phản trực giác nhất trong kinh tế học vĩ mô.

Hãy hình dung một kịch bản đơn giản: Chính phủ quyết định xây thêm trường học trị giá 1.000 tỷ đồng và đồng thời thu thêm thuế đúng 1.000 tỷ đồng từ người dân để cân bằng ngân sách. Nhiều người nghĩ hai khoản này triệt tiêu nhau hoàn toàn. Lúc này có vấn đề vì người dân khi bị thu thêm thuế 1.000 tỷ, họ không cắt giảm chi tiêu đúng 1.000 tỷ mà chỉ cắt giảm theo tỷ lệ MPC. Phần còn lại, họ rút từ tiết kiệm ra. Nên tổng cầu co lại ít hơn mức thuế tăng thêm.

Nên CFA phân tích bằng cách so sánh trực tiếp hai multiplier. Thứ nhất, government expenditure multiplier bằng 1 chia cho (1 trừ MPC). Ví dụ với MPC bằng 0,8, multiplier này là 5. Khi chính phủ chi thêm 100 đơn vị, GDP tăng 500. Thứ hai, autonomous tax multiplier bằng MPC chia cho (1 trừ MPC), tức là 4 trong ví dụ trên, và mang dấu âm vì thuế làm giảm cầu. Khi thuế tăng 100 đơn vị, GDP chỉ giảm 400. Kết quả ròng là GDP tăng 100, đúng bằng quy mô thay đổi ban đầu. Đây chính là Balanced Budget Multiplier bằng 1, luôn dương bất kể MPC là bao nhiêu.

Cốt lõi của logic này nằm ở chỗ chi tiêu chính phủ đi thẳng vào tổng cầu với hệ số nhân đầy đủ, trong khi thuế chỉ tác động gián tiếp qua thu nhập khả dụng và bị giảm bớt bởi tỷ lệ tiết kiệm. Một cách nhớ nhanh: "G vào thẳng, T vào lọc," tức là G tác động trực tiếp 100%, còn T bị MPS hấp thụ một phần nên lực kéo giảm cầu yếu hơn lực đẩy tăng cầu của G.

Một bẫy CFA hay hỏi là chọn đáp án A, lập luận rằng vì thâm hụt ngân sách không đổi thì aggregate demand không đổi. Bẫy này đánh vào suy nghĩ "cân bằng ngân sách là trung lập," nhưng đó là sai vì bỏ qua sự chênh lệch giữa hai multiplier. Luôn nhớ: balanced budget không có nghĩa là neutral impact, và câu hỏi nào cho dữ kiện tăng cả G lẫn T cùng một lượng thì kết quả ròng luôn là expansionary.

Economics · Mock 1 10 / 12
Câu 10 / 12

Economies and diseconomies of scale are most likely to determine the shape of the:

  1. (A)long-run average total cost curve.
  2. (B)long-run average fixed cost curve.
  3. (C)short-run average total cost curve.
Economics · Mock 1 10 / 12
Hướng dẫn tư duy · Câu 10

Đọc đề và định hướng phân tích.

Các bước suy luận then chốt trước khi chọn đáp án.

  • 01The long-run average total cost curve indicates economies of scale in any output range where it slopes down and diseconomies of scale in any output range where it slopes up.
  • 02Short-run cost curves are drawn assuming a constant scale of production.
  • 03All costs are variable in the long run, so there is no long-run average fixed cost curve.
Economics · Mock 1 10 / 12
Đáp án · Câu 10
A
Đáp án đúng
long-run average total cost curve.
Giải thích

The long-run average total cost curve indicates economies of scale in any output range where it slopes down and diseconomies of scale in any output range where it slopes up. Short-run cost curves are drawn assuming a constant scale of production. All costs are variable in the long run, so there is no long-run average fixed cost curve.

Economics · Mock 1 10 / 12
Giải thích sâu · Câu 10

Economics of Scale: Long-Run Average Total Cost Curve (LRATC).

Economies và diseconomies of scale là hai khái niệm cốt lõi trong microeconomics, phản ánh việc chi phí bình quân của doanh nghiệp thay đổi như thế nào khi quy mô sản xuất mở rộng trong dài hạn. Ý cốt yếu cần nắm: trong long run, tất cả các yếu tố đầu vào đều có thể thay đổi, nên doanh nghiệp thực sự "chọn" quy mô hoạt động chứ không bị ràng buộc bởi bất kỳ fixed input nào.

Lúc này, hãy hình dung một nhà máy sản xuất bánh mì. Khi mới mở, nhà máy nhỏ, chi phí trên mỗi ổ bánh còn cao vì chưa tận dụng được máy móc và nhân công chuyên biệt. Khi mở rộng thêm dây chuyền, chi phí bình quân giảm xuống vì phân bổ được overhead và tận dụng specialization. Lúc này có vấn đề vì nếu tiếp tục mở rộng quá mức, bộ máy quản lý cồng kềnh, phối hợp kém hiệu quả, chi phí bình quân lại leo thang. Đây chính xác là hình dạng chữ U của long-run average total cost curve (LRATC): dốc xuống khi có economies of scale, dốc lên khi có diseconomies of scale.

Nên CFA chia làm hai trường hợp để phân biệt rõ. Thứ nhất, với long-run cost curves, toàn bộ chi phí đều là variable vì không có fixed input trong dài hạn. Chính vì vậy, khái niệm "long-run average fixed cost" không tồn tại và đáp án (B) bị loại ngay. Thứ hai, với short-run cost curves, quy mô sản xuất bị giữ cố định do ít nhất một yếu tố đầu vào không thể thay đổi. Hình dạng của short-run average total cost curve đến từ diminishing marginal returns của các variable inputs, chứ không phải từ economies hay diseconomies of scale. Do đó đáp án (C) cũng sai.

Cốt lõi của câu này: economies và diseconomies of scale là hiện tượng dài hạn, gắn liền với việc thay đổi toàn bộ quy mô hoạt động, và chúng quyết định hình dạng của LRATC. Một cách nhớ nhanh: "Long run, large scale" thì mới nói đến economies of scale. Short run thì nói đến diminishing returns, không phải scale economies.

Một bẫy CFA hay hỏi là nhầm lẫn giữa diminishing marginal returns trong short run và diseconomies of scale trong long run. Cả hai đều khiến chi phí tăng lên, nhưng cơ chế hoàn toàn khác nhau: diminishing returns xảy ra khi thêm variable input vào một fixed input, còn diseconomies of scale xảy ra khi toàn bộ quy mô hoạt động mở rộng quá mức tối ưu. Đề có thể hỏi "which curve reflects diminishing returns" để dụ học viên chọn LRATC thay vì short-run curve.

Economics · Mock 1 11 / 12
Câu 11 / 12

After years of rapid economic growth, a country's central bank is concerned about increasing inflation. Which of the following monetary policy actions is the central bank most likely to take?

  1. (A)Decrease its target for the policy rate.
  2. (B)Increase the required reserve ratio for banks.
  3. (C)Purchase government securities in the open market.
Economics · Mock 1 11 / 12
Hướng dẫn tư duy · Câu 11

Đọc đề và định hướng phân tích.

Các bước suy luận then chốt trước khi chọn đáp án.

  • 01To slow inflation, the central bank will use contractionary monetary policy.
  • 02The central bank can increase the required reserve ratio, sell government securities in the open market, or increase the target for the policy rate.
Economics · Mock 1 11 / 12
Đáp án · Câu 11
B
Đáp án đúng
Increase the required reserve ratio for banks.
Giải thích

To slow inflation, the central bank will use contractionary monetary policy. The central bank can increase the required reserve ratio, sell government securities in the open market, or increase the target for the policy rate.

Economics · Mock 1 11 / 12
Giải thích sâu · Câu 11

Monetary Policy Tools: Contractionary Policy to Combat Inflation.

Chính sách tiền tệ thắt chặt là công cụ mà ngân hàng trung ương sử dụng khi nền kinh tế tăng trưởng quá nóng và lạm phát có nguy cơ vượt tầm kiểm soát. Ý cốt yếu ở đây là: khi cung tiền trong nền kinh tế quá lớn, giá cả leo thang, ngân hàng trung ương phải hút bớt thanh khoản ra khỏi hệ thống để làm chậm tốc độ tăng giá.

Lúc này hãy hình dung một kịch bản đời thường: một thành phố đang có quá nhiều tiền mặt lưu thông sau nhiều năm bùng nổ bất động sản, người dân tranh nhau mua hàng hóa khiến giá cả tăng vọt từng tuần. Lúc này có vấn đề vì lượng tiền dư thừa đang bào mòn sức mua của đồng nội tệ, ngân hàng trung ương không thể ngồi yên mà phải "hút" bớt lượng tiền đó ra khỏi lưu thông bằng các công cụ chính sách của mình.

Nên CFA chia các công cụ của chính sách tiền tệ thắt chặt làm ba nhóm chính. Thứ nhất, tăng required reserve ratio, tức là bắt buộc các ngân hàng thương mại phải giữ lại tỷ lệ dự trữ cao hơn trên tổng tiền gửi, từ đó giảm lượng tiền họ có thể cho vay ra nền kinh tế, cung tiền thu hẹp lại. Thứ hai, bán government securities trên thị trường mở, tức là ngân hàng trung ương tung trái phiếu ra thị trường, hút tiền mặt từ tay các nhà đầu tư và ngân hàng về kho của mình, thanh khoản hệ thống giảm xuống. Thứ ba, tăng policy rate mục tiêu, lãi suất cơ sở tăng khiến chi phí vay vốn đắt hơn, doanh nghiệp và người tiêu dùng vay ít hơn, tổng cầu hạ nhiệt, lạm phát dịu lại.

Cốt lõi cần nhớ là cả ba công cụ này đều phục vụ một mục đích duy nhất: giảm cung tiền và tín dụng trong nền kinh tế. Đáp án đúng là tăng required reserve ratio vì đây là hành động trực tiếp hạn chế khả năng tạo tín dụng của hệ thống ngân hàng. Một cách nhớ nhanh: "Thắt chặt = Tăng lãi suất, Tăng dự trữ, Bán trái phiếu", ba cái "tăng/bán" đều rút tiền ra khỏi lưu thông. Ngược lại, nới lỏng là "Giảm lãi suất, Giảm dự trữ, Mua trái phiếu".

Một bẫy CFA hay hỏi là nhầm lẫn chiều của open market operations: mua government securities là nới lỏng tiền tệ vì ngân hàng trung ương bơm tiền vào, còn bán mới là thắt chặt. Đáp án nhiễu C đề cập "purchase government securities" chính là hành động ngược chiều, và đáp án A giảm policy rate cũng là nới lỏng, không phải thắt chặt. Học viên đọc nhanh dễ chọn nhầm nếu không xác định rõ contractionary hay expansionary ngay từ đầu.

Economics · Mock 1 12 / 12
Câu 12 / 12

A country's economy is currently experiencing negative GDP growth, high unemployment, and decreasing home construction. Which of the following industries is most likely to perform well during the current phase of the business cycle?

  1. (A)Travel services.
  2. (B)Consumer staples.
  3. (C)Industrial machinery.
Economics · Mock 1 12 / 12
Hướng dẫn tư duy · Câu 12

Đọc đề và định hướng phân tích.

Các bước suy luận then chốt trước khi chọn đáp án.

  • 01The economy is in the contraction phase of the business cycle.
  • 02Consumer staples (which are items like everyday household products) tend to be less sensitive to business cycle contractions than durable goods like industrial machinery or discretionary services such as travel.
Economics · Mock 1 12 / 12
Đáp án · Câu 12
B
Đáp án đúng
Consumer staples.
Giải thích

The economy is in the contraction phase of the business cycle. Consumer staples (which are items like everyday household products) tend to be less sensitive to business cycle contractions than durable goods like industrial machinery or discretionary services such as travel.

Economics · Mock 1 12 / 12
Giải thích sâu · Câu 12

Business Cycle Analysis: Defensive vs. Cyclical Industries (CFA Level 1, Economics).

Business Cycle và phân loại ngành theo độ nhạy cảm kinh tế là một trong những nền tảng quan trọng nhất trong phần Economics của CFA. Ý cốt yếu cần nắm là: không phải tất cả các ngành đều phản ứng giống nhau với từng giai đoạn của chu kỳ kinh tế. Một số ngành tăng trưởng mạnh khi kinh tế bùng nổ nhưng sụp đổ khi suy thoái, trong khi một số khác gần như không bị ảnh hưởng bởi vì nhu cầu của chúng tồn tại bất kể điều kiện kinh tế ra sao.

Hãy tưởng tượng bạn vừa mất việc làm trong giai đoạn suy thoái. Lúc này, bạn sẽ ngay lập tức cắt giảm chuyến du lịch nước ngoài, trì hoãn mua máy móc hay thiết bị công nghiệp cho công ty, nhưng bạn vẫn phải mua gạo, dầu ăn, xà phòng và thuốc đánh răng. Lúc này có vấn đề vì phần lớn khoản chi tiêu vẫn phải xảy ra bất kể nền kinh tế đang ở trạng thái nào, và đây chính là lý do consumer staples trở thành nơi trú ẩn an toàn trong contraction phase.

Nên CFA phân loại ngành theo hai nhóm chính. Thứ nhấtcyclical industries, bao gồm travel services, industrial machinery, construction, luxury goods: đây là những ngành có nhu cầu gắn chặt với sức khỏe kinh tế, tăng mạnh khi expansion và sụp đổ khi contraction. Thứ haidefensive industries, điển hình là consumer staples như thực phẩm thiết yếu, đồ dùng gia dụng, dược phẩm cơ bản: nhu cầu của chúng tương đối không phụ thuộc vào giai đoạn business cycle vì người tiêu dùng không thể trì hoãn những mua sắm này. Trong câu hỏi này, negative GDP growth, high unemployment và decreasing home construction là ba tín hiệu rõ ràng xác nhận nền kinh tế đang ở contraction phase, do đó ngành nào có tính defensive cao nhất sẽ perform tốt nhất theo nghĩa tương đối.

Cốt lõi của câu này là kỹ năng nhận diện giai đoạn business cycle từ các chỉ số vĩ mô, sau đó ánh xạ đúng ngành phù hợp với giai đoạn đó. Một cách nhớ nhanh: "SEED" cho contraction, tức là Spending giảm trên discretionary, Employment thấp, Expansion chậm lại, Defensive outperforms. Consumer staples luôn nằm trong nhóm defensive vì đây là hàng hóa thiết yếu không thể trì hoãn.

Một bẫy CFA hay hỏi là đề sẽ mô tả một giai đoạn kinh tế hỗn hợp, ví dụ GDP đang phục hồi nhưng thất nghiệp vẫn cao, và hỏi ngành nào outperform. Học viên dễ nhầm chọn cyclical vì thấy tín hiệu tích cực, trong khi thực tế thị trường lao động là lagging indicator và nền kinh tế vẫn chưa thực sự vào expansion. Luôn đọc kỹ toàn bộ tín hiệu trước khi xác định phase.

LeaPrep · CFA Level I

Done.
12 câu.

Mock 1 · Economics hoàn tất
Tiếp tục các môn khác tại lesson.leaprep.com
Mock
1
Subject
ECON
Câu đã review
12
Next
Mock 2 · econ
Practice on platform: leaprep.com/quiz